Tải logo CNTP

 
 
Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Hiện có 203 khách Trực tuyến
 

 

Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ đầu trong kinh VÊĐA In
05-02-2010

GÓP PHẦN TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TÔN GIÁO ẤN ĐỘ THỜI KỲ ĐẦU TRONG KINH VÊĐA

Đỗ Văn Khoa

Trong nền văn minh rực rỡ của Phương Đông thì Ấn Độ là một trong những cái nôi triết học, tôn giáo lâu đời và phong phú của nhân loại. Những kinh Vêđa và tôn giáo Rig – Vêđa tối cổ thể hiện những quan niện hoang sơ của người Ấn Độ cổ về vũ trụ, lý giải về vẽ uyên nguyên tận cùng của đạo, cố gắn đi tìm thực chất bản tính con người, chỉ ra con đường giải thoát cho cuộc đời...
Những tác phẩm có giá trị như kinh Upanishad, được xem như những thánh kinh ghi lại lời dạy của thần linh cho nhân gian, hai bộ sử thi đồ sộ Mahabharata và Ramayana vừa có giá trị sử học, văn học, ngôn ngữ học, vừa có ý nghĩa triết học đạo đức được người Ấn Độ tự hào cho rằng “Cái gì không thấy trong sử thi thì cũng không thấy ở Ấn Độ”. Đạo Jain, đạo Phật với triết lý “Tứ diệu đế”, học thuyết “Thập nhị nhân duyên” và tư tưởng từ bi, đòi bình đẳng xã hội, được Ph. Ănghen đánh giá như tư duy triết học biện chứng chất phát. Những trào lưu triết học có tính hệ thống chặt chẽ như Lokayata, Samkhya, Vaisesika, Nyaya.... nghiên cứu hầu hết các vấn đề khác nhau của triết học ảnh hưởng và kế thừa lẫn nhau trong quá trình phát triển của mình.
Khác với tư duy Phương Tây chú ý đến mạch lý luận, đến nhận thức thế giới xung quanh, tìm chân lý bên ngoài con người bằng suy luận logic và thực nghiệm khoa học thì triết học Ấn Độ là triết học đời sống hướng tới tâm linh, suy tư trừu tượng nên rất cao siêu và thăng trầm. Đó là một thế giới đầy huyền bí, kỳ diệu, đầy sức quyến rũ, chưa bao giờ bị tàn lụi trong lịch sử. Nó không phải những báu vật, hay những pho sách trang hoàng đẹp đẽ trong tủ kính để người đời ngợi ca, mà những tư tưởng ấy nảy sinh từ đời sống và đi vào đời sống, là hơi thở là cứu cánh trong cuộc sống của nhân dân Ấn Độ. Vì vậy, không gì ngạc nhiên khi Upanishad, Mahabharata và Ramayana, Phật giáo, Hiđu đã tồn tại hơn 3000 năm nay và vẫn còn truyền tụng không chỉ tại Ấn Độ mà còn vươn xa khắp nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Trong khuôn khổ đề tài tác giả mong muốn góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại thể hiện qua kinh Vêđa ở thời kỳ đầu, qua đó phần nào hiểu hơn về lịch sử, tư tưởng Ấn Độ.

CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH

VĂN HÓA ẤN ĐỘ

Điều kiện tự nhiên

Ấn Độ là một bán đảo lớn - một "tiểu lục địa" nằm ở miền Nam châu Á; phía Tây Nam và Đông Nam giáp Ấn Độ Dương, phía Bắc là dãy Hymalaya hùng vĩ án ngữ theo một vòng cung dài 2.600km.
Điều kiện thiên nhiên và khí hậu của Ấn ộ rất phức tạp. Địa hình vừa có nhiều núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi với những vùng đồng bằng trù phú; có vùng khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều, có vùng lạnh giá, quanh năm tuyết phủ, lại cũng có những vùng sa mạc khô cằn, nóng nực. Tính đa dạng, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và khí hậu là những thế lực tự nhiên đè nặng lên đời sống và ghi dấu ấn đậm nét trong tâm trí người Ấn Độ cổ

1.2. Lịch sử phát triển

Từ thiên niên kỷ thứ II TCN tới giữa thiên niên kỷ thứ I TCN là thời kỳ Vêđa        (lịch sử thời kỳ này được phản ánh trong kinh Vêđa). Sự xâm nhập của người Aryen từ Trung Á, Capcadơ và Caspien tới Ấn Độ chung sống với cư dân Dravidian bản địa, trở thành yếu tố chủ thể của nền văn minh Ấn Độ. Chế độ công xã nguyên thủy tan rã, nhiều vương quốc độc lập nhỏ xuất hiện.
Vào thế kỷ VI TCN vương quốc Magađa chiếm vai trò chủ đạo. Năm 327 – 322 TCN quân của Allexandre xứ Maxêđôni (Hy Lạp) xâm chiếm Ấn Độ. Từ năm 321 TCN đến 187 TCN vương triều Maurya xây dựng Ấn Độ thành một quốc gia cường thịnh.
Sau đó Ấn Độ bị xâm cắt và bị ngoại xâm. Tới thế kỷ thứ I  sau công nguyên, vua Kanisca lập vương triều Kusana. Nhưng phải tới thế kỷ thứ IV Ấn Độ mới thống nhất dưới vương triều Gupta và Harsa (thế kỷ thứ IV – VII)
Từ thế kỷ Vii – XII, Ấn Độ lại bị chia cắt. Người Hồi giáo từ phía bắc liên tục xâm nhập và thiết lập vương triều Đêli (thế kỷ XIII – XVI)
Từ năm 1525, Babua đưa quân Môgôn xâm chiếm Ấn Độ, lập vương triều Môgôn, mở rộng lãnh thổ, phát triển kinh tế thành đế quốc rộng lớn. Từ thế kỷ XVII, thực dân Phương Tây xâm nhập, đến quốc Môgôn suy yếu và tới năm 1857 bị xóa bỏ, trở thành thuộc địa của nước Anh.

 

CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TÔN GIÁO CƠ BẢN TRONG KINH VÊĐA (GIAI ĐOẠN ĐẦU)

 

2.1. Sơ lược thời kỳ Vêđa

Gọi là thời kỳ Vêđa (khoảng 1500 năm TCN đến năm 1000 TCN) và thời kỳ Sử thi hay thời đại “anh hùng” (khoảng từ năm 1000 TCN đến năm 700 TCN) vì toàn bộ sinh hoạt, phong tục, tập quán tư tưởng của người Ấn Độ cổ đại đều được thể hiện trong kinh Vêđa và hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana. Và đây cũng là thời kỳ người Arya xâm nhập vào Ấn Độ.
Vào khoảng thế kỷ XV, các bộ lạc du mục của người Arya từ Trung á xâm nhập vào Ấn Độ, đem theo những phong tục, tập quán, tín ngưỡng...và bắt người bản xứ làm nô lệ. Đây là thời kỳ hình thành các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Arya trên lưu vực sông Hằng và sông ấn.
Sau một thời gian dài chung sống, người Arya và người Dravida bản xứ đã đồng hóa. Do tiếp thu được kỹ thuật và văn minh của người Dravida, do chiếm được những vùng đất đai màu mỡ và thuận lợi, người Arya bắt đầu chuyển từ chăn nuôi, du mục sang đời sống nông nghiệp định cư, phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp. Đặc trưng của nền kinh tế nông nghiệp thời kỳ này là kinh tế tiểu nông kết hợp chặt chẽ với thủ công nghiệp gia đình nên tính chất tự cấp tự túc là nổi bật và quan hệ trao đổi giữa các công xã rất yếu ớt. Đó cũng là nguyên nhân làm xã hội ấn độ phát triển rất chậm chạp và trì trệ.
Về mặt xã hội, thời kỳ này đã xuất hiện chế độ đẳng cấp ( varna - màu sắc, chủng tính) góp phần quy định cơ cấu xã hội và ảnh hưởng đến hình thái tư tưởng ấn độ cổ đại. Đó là chế độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ hôn nhân...được hình thành trong thời kỳ người Arya chinh phục, thống trị người Dravida, cũng như trong cả quá trình phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc giữa quý tộc và thường dân Arya. Theo thánh điển Bàlamôn và bộ luật Manu, xã hội ấn độ cổ đại chia thành bốn đẳng cấp lớn: Đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ, lễ sư Bàlamôn (Brahmâna); thứ hai là đẳng cấp vương công, vua chúa, tướng lĩnh, võ sĩ (Kshatriya); thứ ba là đẳng cấp thương nhân, điền chủ và thường dân Arya (Vaishya); thứ tư là đẳng cấp tiện dân và nô lệ (Shudra). Ngoài bốn đẳng cấp trên còn có những người bị coi là ngoài lề đẳng cấp xã hội.Đó là tầng lớp
người cùng đinh, hạ đẳng (Paria) như người Chandala.
Thời kỳ Vêđa cũng là thời kỳ hình thành các tôn giáo lớn mà tư tưởng và tín ngưỡng của nó ảnh hưởng đậm nét tới đời sống tinh thần xã hội ấn độ cổ đại, như đạo Rig - Vêđa, đạo Bàlamôn, sau đó là đạo Phật, đao Jaina...

2.2. Kinh Vêđa và những tư tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại thể hiện trong giai đoạn đầu

2.2.1. Sơ lược về kinh Vêđa

Về nguồn gốc thần thoại tôn giáo, người Ấn Độ xem kinh vêđa là những chân lý thiên khải cho loải người ở mỗi đầu chu kỳ của vũ trụ. Một chu kỳ của vũ trụ theo người ấn độ có tên là Kalpa, tính từ khi vũ trụ sáng tạo ra cho tới khi tiêu diệt đi, bằng một ngày của Brahmâ hay bằng 1.000 Mahayuga (đại thời đại). Đại thời đại bao gồm bốn thời đại chính: thời đại toàn tác, được coi là thời đại hoàng kim; thời đại tam, đây là thời đại của sự công bình, thời đại nhị, đây là thời đại bắt đầu có khủng hoảng và sa đọa , con người ít biết vêđa và không còn yêu chân lý nữa, các tai ương cũng đồng thời ập xuống đầu họ, thời đại vong, đây là thời đại con người đã thôi cúng tế và hành thiện, tai ương tràn ngập thế giới. Sau thời kỳ này, lịch sử lại vòng trở về thời kỳ toàn tác để bắt đầu một chu kỳ mới. Cứ một khoảng thời gian nhất định Brahmâ lại tạo ra những bậc đạo sĩ uyên thâm tiếp thu những lời mật chú (mantra) của thần và đi khải thị cho khắp chốn nhân gian. Cái biết ấy được thực hiện bằng hai con đường: tri thức (jnana – marga) và tế tự (yajna – marga). ở thời kỳ Vêđa việc tế tự rất được chú trọng vì người ta tin rằng những nghi thức tế lễ, con người có thể thông đạt được với thần linh.
Thực ra, Vêđa không phải là thiên khải cũng không do một nhân vật nào sáng tác. Nó là một bộ sách thâu lượm tất cả các câu ca dao, vịnh phú về sự giàu đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên Ấn Độ, về những tập tục, nghi lễ, quan điểm tư tưởng và những bài thánh ca cầu nguyện các đấng thần linh của người Arya. Một thời gian dài kinh Vêđa được học thuộc lòng và truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Kinh Vêđa với nghĩa rộng gồn bốn loại:

  1. Các tập Samhitas: gồm những lời cầu nguyện, xưng tụng thần linh dưới dạng thi ca
  2. Các Brahmânas: gọi là Phạn thư hay kinh Bàlamôn, giải thích các qui tắc, nguyên tắc tế tự chuyên dùng cho các tu sĩ, chức sắc cao cấp của đạo Bàlamôn
  3. Các Aranyaka: gọi là kinh rừng dùng cho các tu sĩ khổ hạnh, chứa đựng những lời lẽ uyên nguyên về vũ trụ vạn vật, bản chất của đời sống và giá trị của nhân sinh
  4. Các kinh Upanishad: gọi là Áo nghĩa thư là những sách bình chú có tính chất tôn giáo, triết học, giải thích ý nghĩa triết lý sâu xa của kinh vêđa, dùng cho các triết gia

Các tập Samhitas có bốn bộ là:

  1. Rig – Vêđa: là tri thức về các thánh tán ca, là nguồn gốc đầu tiên của Ấn Độ giáo, ca tụng các vị thần của người Arya, trong đó quan trọng nhất là thần Sấm sét vả thần Lửa
  2. Bộ Yajur – Vêđa: tập hợp những công thức khấn bái thần linh trong nghi thần linh, hiến tế
  3. Bộ Sama – Vêđa: được coi là tri thức về các giai điệu ca chầu, cầu nguyện thần linh khi hành lễ
  4. Bộ Atharva – Vêđa: là tri thức về các loại thần chú bùa phép, ma thuật, dùng để cầu phúc, cầu tài, giải hạn…

            Như vậy, Vêđa theo nghĩa hẹp gồm bốn bộ kể trên, trong đó quan trọng nhất là bộ Rig – Vêđa gồn các Samhitas và những kinh xuất hiện muộn hơn như Brahmanas (nghi thức tế tự), Aranyaka (Kinh rừng) và Upanishad (áo nghĩa thư) là những kinh tiếp tục bình chú, giải thích những tư tưởng khác nhau trong kinh Vêđa ở giai đoạn đầu

 

 2.2.2. Tư tưởng triết học, tôn giáo chính

Với những hiện tượng tự nhiên và xã hội ẩn dấu những điếu bí ẩn, kỳ diệu, mạnh mẽ, vốn là cái nôi sinh trưởng, tồn tại của con người nhưng lại luôn gây ra cho đời sống con người biết bao những tai họa, bất trắc khôn lường, từ đó người Ấn Độ đã sáng tạo nên một thế giới các vị thần có tính chất tự nhiên để giải thích các hiện tượng phong phú, phức tạp của hiện thực. Các vị thành đầu tiên xuất hiện trong các kinh Vêđa đều tượng trưng cho sức mạnh của các lực lượng, các sự vật tự nhiên mà người Ấn Độ thờ phụng như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, vòm trời, tinh tú, lửa, ánh sánh, gió, mưa, rạng đông và cả sinh thực khí. Về sau, người Ấn Độ lại sáng tạo ra biểu tượng các vị thần mới để lý giải các hiện tượng trong lĩnh vực đạo đức, luân lý xã hội, như thần ác, thần thiện, pháp thần, thần công lý. Người Ấn Độ cổ tin và giải thích rằng trong vũ trụ này đồng thời tồn tại ba thế lực có liên quan với nhau là thần linh, con người và quỷ ác, ứng với ba cõi của vũ trụ bao la là thiên giới, trần thế và địa ngục. Họ đã phân tích các hiện tượng tự nhiên và lý giải chúng qua biểu tượng của thế giới thần linh phong phú, hiện diện ở khắp mọi nơi và khắp mọi thời, chia nhau chi phối sự biến hóa của vũ trụ vạn vật theo sự điều khiển của nguyên lý rita (rita nghĩa đen là chân xác, thích hợp, trật tự vận hành vũ trụ). Vì thế kinh Rig – Vêđa viết: “Toàn thể vũ trụ được thành lập trên nguyên lý rita và vận hành trong đó” ( Rig – Vêđa, I, 156, 3). Họ say mê gửi gắm tâm hồn, cuộc sống tự nhiên của mình vào thế giới của các vị thần linh ấy. Do vậy, họ rất sùng thượng tín ngưỡng, cầu nguyện và hiến tế. Bất cứ việc gì đối với bản thân, gia đình và bộ tộc, họ đều cầu khẩn chư thần, với các mục đích rõ rệt. Chẳng hạn, làm lễ cầu nguyện khi cưới vợ, lễ chúc phúc khi sinh con, lễ cầu nguyện cho gia đình an vui, cho đàn gia súc không bị dịch bệnh và sinh đẻ nhiều, lễ cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, lễ cầu nguyện để được khỏe mạnh sống lâu,…Họ cúng tế không phải chỉ là sự mê tín mà đó chính là lòng tin, niềm say mê cuộc sống hồn nhiên và sự khẳng định cuộc sống, lẽ sống của mình, Do đó, họ cho rằng đem lòng thành kính của mình để tụng niệm trước thần linh là bổn phận và hạnh phúc của con người. Các thần linh trong kinh Vêđa ngụ ở khắp ba cõi: đất hay hạ giới (Prithvi), không trung hay cõi trung gian (Antariksha), trời hay thiên giới (Dyaus). Nhưng chư thần có đông đảo đến đâu cũng chỉ là sự biểu hiện khác nhau của một “Đấng duy nhất”. Hình ảnh mà người ta cho là hiện thân của thượng đế toàn năng đó là thiên giới vô thủy vô chung. Cùng với trời là khí dương, là cha (Dyaus), có đất là khí âm, là mẹ (Aditya nghĩa đen là vô tận). Dyaus là nguyên lý dương, là tinh thần thì Aditya là nguyên lý âm, là vật chất. Chính do trời cha và đất mẹ giao hoan, giao cảm đã sản sinh ra và nuôi dưỡng vạn vật, muôn loài trong vũ trụ. Thần cai quản hạ giới là thần Lửa Agni. Thần cai quản không trung là thần Gió Vâyu và thần cai quản thiên giới là thần Mặt trời Sùrya hay còn có tên là Mithra. Ba vị thần đó được coi là ba ngôi tối linh trong kinh Vêđa (Trimurti)

Thần lửa Agni là một vị thần mình đỏ và vàng, có hai đầu bảy lưỡi, bốn tay, tay thứ nhất cầm một chiếc rìu, tay thứ hai cầm một ngọn đuốc, tay thứ ba cầm một cái quạt, tay thứ tư cầm chuỗi hạt. Agni cưỡi con cừu đực hay ngồi trên chiếc xe có bảy con ngựa kéo, khói là cờ, gió là bánh xe. Thần lửa đi tới đâu là lửa cháy đến đó. Tuy vậy thần lửa vẫn là thần bảo hộ cho loài người, ban phát ánh sáng và hơi ấm cho nhân gian, là một trong những vị chủ tế trong các buổi tế lễ. Thần lửa Agni hiện thân dưới nhiều hình thức, gồm năm hình thức tự nhiên và năm hình thức tế tự, năm hình thức tự nhiên của thần lửa là: lửa trần gian (agni), sấm sét trong không trung (indra), mặt trời ở thiên giới (surya), lửa nhuần khắp (vaishavânara) và ngọn lửa tàn phá (vedevaagni) ngụ trong núi lửa sẵn sàng tiêu diệt thế gian. Năm hình thức tế tự của thần lửa là: lửa thiêng trong các buổi tế lễ (brahla agni), lửa trao cho thiếu niên tu học (brahnacharya), lửa trong lễ khai hóa (upanayaha), lửa dung trong mỗi nhà không bao giờ tắt (garhapatya agni), lửa trong cúng tế tổ tiên hoặc vong hồn (pakshina agni), lửa thiêng trên dàn hỏa tán (kravyda agni).Thần Gió Vâyu cai quản không trung, đó là một vị thần minh trắng, cưỡi trên một con linh dương mang theo cung tên với tư thế oai phong, dũng mãnh. Đôi khi thần Gió lại cùng với thần Sấm sét Indra ngự trên một chiếc xe bằng vàng có ngàn con ngựa kéo.
Theo truyền thuyết xưa có một hôm đạo sĩ Nâranda thỉnh cầu Vâyu thổi gãy đỉnh núi Meru. Vâyu thổi một trận cuồng phong kéo dài suốt một năm mà không có kết quả vì thần điểu Garuda (do thần Vishnu thường cưỡi) đã xoè cánh che ngọn núi và cản sức mạnh của cuồng phong. Đạo sĩ Nâranda bèn đề nghị với Thần Vâyu chờ khi nào Garuda đi vắng hãy tấn công. Quả nhiên cơ hội này đến và Vâyu thổi bay chóp núi Meru ra tận ngoài biển, biến thành hòn đảo Lankâ tức là xứ Ceylon (Tích Lan) bây giờ.
Thần gió Vâyu là cha của thần khỉ Hanuman trong sử thi Râmâyana và là cha của anh hùng Bhima trong anh hùng ca Mahâbhârata nổi tiếng. Thần Gió Vâyu, xuất phát từ căn tự “vâ” có nghĩa là “thổi” (cũng có nghĩa là “lời”, “ngôn từ”), được coi là hơi thở của lửa, là sinh khí của vũ trụ là mạch sống của muôn loài.Vâyu cũng có nghĩa là “thâm nhập tràn lan”.

Thần lửa Agni và nàng Sita
 Ngài ngụ trong không gian, tràn đầy ba cõi. Thần Gió có nhiệm vụ thanh tẩy và cùng với thần Lửa chuyển những lễ vật mà con người dâng cúng trong các buổi tế lễ lên các đấng thần linh.
Thần Mặt trời Sùrya, do căn tự “sur” hay “svar” nghĩa là “sáng chói”, là nguồn sống của vũ trụ, là minh trí của tất cả sinh vật, biểu thị bởi mười hai nguyên lý tối cao (Âditya). Mười hai thần Aditya là những vị nào? Đó là mười hai tháng trong năm, vì khi chuyển vận, các vị thần đó cuốn theo tất cả thế gian, Vì lẽ đó, các thần ấy được gọi là Âditya (nguyên lý tối thượng)”. Mặt trời là trung tâm của vũ trụ, vừa thuộc thế giới không biểu hiện vừa thuộc thế giới hiện tượng. Mặt trời là con mắt của vũ trụ, là nguyên nhân của ban ngày; ngày tổn tại vĩnh cửu, là nguồn gốc của thời gian. Các tinh tú cõi đời (vasu), những nguyên lý của sự sống (rudra), thần Gió, thần Lửa và tất cả các thần khác đều là thành phần của thần mặt trời.
Thần Mặt Trời Suârya có bốn vợ: Samjnâ (Trí thức), Rajni (Hoàng hậu), Prabhâ (Ánh sáng) và Châyâ (Bóng Tối). Suârya có nhiều con, trong số có Yama (Tử thần).
Thần Samjnâ còn có tên là Saranyuâ (Mây). Tương truyền rằng Samjnâ không thể chịu nổi sức nóng của chồng lâu được, nên phải trốn vào rừng đi tu, nhờ các thiên thần tạo ra nàng Châyâ có dung mạo giống hệt mình để đánh lừa Suârya. Khi khám phá ra sự thật, Suârya đi kiếm.

Thần Mặt trời Surya
Samjnâ bèn biến thành con ngựa cái. Suârya cũng lập tức biến thành con ngựa đực để theo vợ. Vì thế mà Samjnâ sinh ra một cặp sinh đôi, mình người đầu ngựa, tức là hai thần Ashivins, thần của nhà nông và cũng là thần y chữa bệnh cho chư Thần. Sau đó Suârya dẫn vợ về nhà. Cha vợ là Tvashtri (Hoá công) muốn cho con gái khỏi bị đau đớn vì sức nóng, bèn xén bớt một ít tia sáng của Suârya. Những mảnh này được tạo thành cái đĩa của Thần Bảo Tồn Vishnu, cái chĩa ba của Thần Huỷ Diệt Shiva, cái chuỳ của Thần Tài Sản Kubera, cùng là khí giới của nhiều thần linh khác nữa.
Thần Không trung Varuna (bầu trời), theo người Ấn Độ là vị thần bao la, rộng lớn với muôn ngàn con mắt luôn đứng dõi trông theo sự vận hành của vũ trụ và canh giữ, bảo vệ công lý dưới sự phụ tá của thần điều khiển Rita (đạo trời, thiên lý, trật tự điều hành vũ trụ)
Người Ấn Độ cổ không chỉ dùng biểu tượng các vị thần để giải thích các hiện tượng tự nhiên mà còn để giải thích các luân lý đạo đức xã hội. Vì vậy, thần Varuna mới đầu chỉ là khoảng trời trùm vũ trụ bao la, y phục là vòm trời cao xanh thăm thẳm nhưng sau thì Varuna được sùng bái thành vị thần đạo đức, lý tưởng nhất trong kinh Vêđa. Thần Varuna không chỉ là thần chuyên duy trì trật tự vận hành của vũ trụ, mà còn là thần giám sát cả thế giới, bảo vệ công lý, thưởng người thiện, phạt kẻ ác và tha thứ cho kẻ nào biết cầu nguyện mình.

Nghi lễ câu nguyện thần Varuna
Thần linh dưới con mắt người Ấn Độ cổ là những bậc hiện sinh, siêu việt và mang tính tự nhiên. Tuy vậy các vị thần cũng mang đậm nhân tính. Thần cũng có vợ có chồng. Khi được nhân gian dâng rượu ngon thì các vị thần cũng uống cho kỳ say, đến mức nhại lại cả những lời trong kinh thánh. Cũng có những vị thần tuy chẳng có việc gì, nhưng thích khoe khoang, bộ tịch, cứ thắng xe mang khí giới ngông nghênh bay cùng khắp phương trời, Lại cũng có những vị thần khiếm khuyết về đạo đức thường gây gổ với các vị thần khác, chọc ghẹo vợ của các vị thần khác, gây ra dịch bệnh, lụt lội, hạn hán,…làm khổ ải cả thế gian. Nhưng nhìn chung, đối với Ấn Độ thì thần linh bao giờ cũng đại diện cho sự tốt lành.Mặc dù mỗi vị thần tượng trưng cho mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau của vũ trụ, có nhiệm vụ cai quản mỗi lĩnh vực riêng của quyền lực ngang nhau, nhưng khi thi hành quyền lực ấy, các vị thần luôn có sự liên hệ mật thiết, thống nhất và đồng điệu với nhau. Khi thần Mưa Parjanya ra tay tung nước xuống trầng gian, là có thần Sấm sét Indra vung lưỡi tầm sét, cùng với thần Gió Vâyu gào thét.
Cũng do quan niệm ấy, người Ấn Độ cổ đã thờ các bộ thần. Số các vị thần cứ tăng lên mỗi ngày một đông và người Ấn Độ tự hỏi vị nào đã tạo ra thế giới? Lúc thì họ bảo là thần Agni, lúc lại bảo là thần Indra hoặc thần Surya, thần Prajapati.
Khi giải thích thế giới tư tưởng triết học Vêđa đã dẫn khám phá ra rằng đằng sau thế giới hiện thực phong phú của hiện thực có một lực lượng tối cao vô hình chi phối, Do vậy, càng về sau quan niệm tự nhiên về các vị thần biểu tượng cho các hiện tượng đa dạng vủa thế giới đã dần dần mờ nhạt. Thay vào đó ngày càng nổi bật lên những nguyên lý trừu tượng duy nhất tối cao được coi là căn nguyên của vũ trụ và đời sống con người.Điều đó có nghĩa là tư duy của người Ấn Độ đang chuyển dần từ tính cụ thể cảm tính sang tính trừu tượng, từ quan niệm có tính đa thần sang tính nhất thần. Có lẽ đây là phần quý giá nhất cùa tư tưởng triết lý Ấn Độ trong buổi đầu hình thành dưới màn sương bao phủ của tín ngưỡng thần thoại tôn giáo.
Đặc biệt về sau, trong tư tưởng tôn giáo triết học Ấn Độ cổ đại chỉ tôn sùng một vị thần, đó là “ Thần sáng tạo tối cao” Brahmâ và một nguyên lý vũ trụ - “tinh thần sáng tạo vũ trụ tối cao” Brahmân. Điều đó được biểu hiện trong giáo lý đạo Bàlamôn, trong triết lý Upanishad, Bhagavad – Gita, trong học thuyết Védanta.
Thần sáng tạo tối cao Brahmâ có nguồn lực sáng tạo và mặt đối lập với nó, đó là hủy diệt, nên có thần Hủy diệt Shiva. Có mặt hủy diệt tất yếu phải có mặt bảo tồn, nên có thần Bảo vệ Vishnu.
Sáng tạo, hủy diệt và bảo tồn là ba mặt thống nhất khăng khít trong một quá trình biến hóa của thế giới, Ba vị thần, ba lực lượng nhưng thực chất chỉ là sự thể hiện của một nguyên lý duy nhất tối cao của vũ trụ. Sáng tạo là để bảo tồn rồi hủy diệt, hủy diệt để sáng tạo rồi bảo tồn, bảo tồn hủy diệt rồi sáng tạo.
Đặc tính của thần sáng tạo Brahmâ là hoạt động, tình cảm, tác dụng điều hòa (rajas); đặc tính của thần Hủy diệt Shiva là tối tăm, thụ động (tamas); đặc tính của thần Bảo tồn Vishnu là sáng suốt, thuần khiết sattva).
“ Tam vị nhất thể” là đối tượng tôn thờ của đạo Bàlamôn, hình thức thứ hai của Ấn Độ giáo, cũng như của đạo Hindu sau này. Brahmâ là đấng tự sinh và là đấng sáng tạo vũ trụ duy nhất tối cao. “Vạn vật phát hiện từ nơi ngài và vũ trụ đã có sẵn ở trong ngài…Cũng như cây sồi có sẵn ở trong hạt sồi, cũng như trái cây có sẵn ở trong mầm hạt cây, sẵn sàng nảy nở và phát triển, muôn vật hữu hình đã có sẵn ở Brahmâ và mọi mầm mống đều phát sinh từ nơi ngài’
Trong kinh Munkada cũng viết: “Phạm thiên đệ nhất chư thấn xuất sinh, sáng tạo tất cả, trì hộ thế gian’. Thần Brahmâ có màu da đỏ hồng. Màu đỏ là màu tượng trưng cho nguyên lý sáng tạo vũ trụ. Brahmâ có bốn cánh tay cầm bốn pho Vêđa; hoặc có khi cầm bốn pho Vêđa trong tay thứ nhất, tay thứ hai cầm cây trượng, tay thứ ba cầm cây cung và tay thứ tư cầm một bình nước. Hình ảnh phổ biến nhất của Brahmâ là một vị thần có bốn dầu với hàm râu dài (Chatur ârana). Brahmâ là nguồn gốc của tri thức. Vợ của Brahmâ chính là hình ảnh nhân hóa của tri thức (Sarasvati). Chính Brahmâ đã dạy minh giác Phạm thể làm căn bản mọi kiến thức cho Atharvan. “Minh giác Phạm thể do Phạm thiên dạy cho Atharvan xưa được Atharvan truyền cho Angri, Angri dạy cho Satyavâha thuộc dòng Bharadvâjas và Bharadvâjas dạy cho Angira, vừa minh giác siêu việt vừa minh giác hạ tầng”.
Cuộc đời của Brahmâ chia ra ngày và đêm; trong đó ngày thức đêm ngủ. Khi Brahmâ thức vạn vật sinh trưởng. Khi ông ngủ vũ trụ tiêu tan, nhưng rồi sẽ tái sinh lại sau khi ông tỉnh giấc. Một ngày một đêm của Brahmâ lâu bằng 4.320.000.000 năm. Brahmâ sống lâu 100 năm.

Thần Brahmâ
 
Các truyền thuyết và sách cổ tích Ấn Độ cổ đã đưa ra nhiều thuyết khác nhau để giải thích lai lịch của Brahmâ. Một thuyết kể lại rằng Brahmâ ra đời do cuộc phối hợp giữa Đấng tối cao với năng lực của ngài là Mâyâ. Một thuyết khác lại nói Brahmâ được sinh ra trong một quả trứng vàng, tức kim noãn, hay Hoàng kim thai tử Hiranyagabha trôi nổi trên mặt biển vô biên. Sau khi nằm trong trứng vàng một năm, thần mới phân quả trứng ra làm đôi,  một nửa trên là trời, một nửa dưới là đất và khoảng giữa là không trung. Ngài nặn cho núi cao, đào cho biển sâu, ban sinh khí cho chư thần, tạo ra thể xác và sự sống cho muôn loài, trao quyền hành chi phối muôn loài cho các thần, quy định trật tự vũ trụ. Thuyết thứ ba phổ biến hơn cả cho rằng Brahmâ được sinh ra từ một đóa sen mọc từ rốn của thần Vishnu, là hình ảnh tượng trưng cho ý nghĩa tái sinh do những mầm mống của kiếp trước được bảo tồn trong Vishnu. Vì vậy Brahmâ còn có tên là Mabhija (tự rốn sinh ra) hay là Abjaja (nghĩa là tự bông sen sinh ra).
Brahmâ có năm đầu nhưng bị Shiva hủy mất một đầu nên chỉ còn bốn đầu, vì thế Brahmâ còn được gọi là thần bốn đầu (Chatur –ânana) hay thần Bốn mặt (Chatur –mukha). Sự tích Brahmâ có 5 đầu thường được kể như sau : “Brahmâ lấy chất vô nhiễm của mình tạo thành một người đàn bà. Nữ thần này được thờ với nhiều tên khác nhau là Shataruâpâ (Bách Tướng), Vâc (Thượng Ngôn cũng như Ngôi Lời) hay Sarasvâti (Hùng Biện), Savitĩ (Thánh Mẫu), Gâyatri (Thánh Ca) và Brahmâni (vợ của Brahmâ). Khi ngắm người con gái do chính mình tạo ra, Brahmâ bị mê hoặc bởi dục tính, Shararuâpâ phải lẫn về phía tay mặt để Brahmâ khỏi nhìn thấy. Brahmâ bèn mọc thêm một đầu trông ra phía mặt; nàng lẩn về phía trái; Brahmâ mọc thêm một đầu ra phía trái; nàng lẩn về phía sau, Brahmâ mọc thêm một đầu trông ra phía sau; cuối cùng nàng bay lên không, Brahmâ lại mọc thêm một đầu thứ năm để ngắm nhìn nàng. Còn về việc Brahmâ bị Shiva hủy mất cái đầu thứ năm cũng có nhiều truyền thuyết.

Thần Brahmâ trong tư thế sáng tạo thế giới
Truyện thì cho là vì chính miệng của đầu ấy khoe rằng Brahmâ ưu thế hơn Shiva; truyện thì cho rằng vì miệng ở đầu ấy đã nói dối trong một cuộc tranh tài giữa Brahmâ và Vishnu; truyện thì kể vì Brahmâ phạm tội loạn luân nên Shiva bèn trừng phạt bằng cách chiếu con mắt thứ ba vào cái đầu ấy và đốt nó ra tro.
Mặc dầu vai trò của Brahmâ có vẻ quan trọng nhất, địa vị của Brahmâ lại sút kém nhất trong ba ngôi tối linh. Lý do có thể vì: đứng ở phương diện đạo đức, Brahmâ đã phạm tội dối trá và loạn luân. Thần thoại trên đây đã kể do sự phối hợp của Brahmâ và Ushas (Rạng Đông) mà sinh ra Manu, tổ của loài người và muôn vật. Ushas chính là con gái của thần. Đứng về phương diện triết lý mà suy thì vì có sự sáng tạo của thần mà con người phải đắm chìm trong bể khổ , trong vòng thiện, ác xung đột và bị tách rời khỏi chân lý và hạnh phúc tuyệt đối. Như vậy sáng tạo không hẳn là một hành động đầy ân phước mà chính là một hành động đọa đày, nếu không bị chống đối thì cũng chẳng đáng được sùng bái nhiệt thành.
Hiện thần thứ hai của Brahmâ là thần Shiva, dưới hình ảnh như nhân, Shiva có nước da trắng tượng trưng cho bản chất thuần túy của tất cả màu sắc. Shiva có ba mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng và ngọn lửa thế gian, có thể nhìn thấu quá khứ, hiện tại và tương lai. Mái tóc rối của Shiva tượng trưng thần gió. Mái tóc đó cũng tượng cho sức mạnh vì sông Hằng Hà linh thiêng khi nhận lời cầu xin của một đạo sĩ thấu thị (Rishi) xuống trần, Shiva đã phải xõa tóc cho dòng nước xuôi theo và đổ xuống nhẹ nhàng, nếu không thì thế gian đã rung chuyển và xụp đổ tan tành. Một hôm thần Brahmâ trông thấy thần Vishnu đang nằm trên một chiếc lá sen trên mặt nước nguyên thủy, Brahmâ hỏi danh tính. Vishnu bèn xưng danh và kêu Brahmâ bằng con. Brahmâ tức giận và tuyên bố chính mình mới là đấng sáng tạo và hủy diệt vũ trụ.
Vishnu bát bỏ lời của Brahmâ, cương quyết cho mình mới là đấng sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt vũ trụ, hai bên đang cãi cọ tranh giành ngôi thứ, thì bỗng hiện ra một cột lửa cao ngất tưởng chừng như không có khởi nguyên. Hai thần bèn ngừng cuộc tranh luận và đồng ý chia nhau đi tìm đầu và cuối của cột lửa. Vishnu đi xuống dưới gốc và Brahmâ đi lên phía ngọn.

Thần Shiva
Sau một thời gian thám hiểm rất lâu, cả hai đều không đạt được mục đích và phải trở về nơi gặp gỡ ban đầu. Vừa khi đó không gian bỗng vang lên âm thanh linh thiêng của tiếng AUM* và Shiva xuất hiện giữa cột lửa khiến cả Brahmâ và Vishnu đều cảm thấy hân hoan. Khi ấy Shiva bèn nói cho hai thần biết rằng không có ai hơn, ai kém, và ba ngôi tối linh Brahmâ-Vishnu-Shiva chỉ là ba tác dụng khác nhau của cùng một bản thể. Shiva có hai đời vợ nhưng cùng là một người trải qua hai kiếp. Kiếp thứ nhất nàng tên là Sati (Hiền phụ), con gái của Daksha (Tài Trí), một trong tám vị thần sáng tạo do Brahmâ tạo ra. Daksha vốn không vưa Shiva vì Shiva thường có bề ngoài là một đạo sĩ khất thực tiều tụy và không tỏ thái độ tôn kính mình. Daksha đã đuổi Satĩ ra khỏi địa phận của mình khi nàng nhất định chọn Shiva làm chồng. Một lần Sati về nhà vào dịp làm lễ mừng thần Vishnu, Daksha đã không tiếc lời nhục mạ nàng cùng Shiva. Sati bèn thoát hồn trả lại thân xác cho cha. Shiva nổi giận, giết chết Daksha tức thì. Sati tái sinh làm con gái của thần núi Himâlaya (Núi Tuyết), mang tên là Umâ Himavutee và thường được gọi là Pârvatĩ (Sơn nữ). Sau nhiều lần thử thách về đức tính, Shiva lấy Pârvati làm vợ.
Khi Shiva đã múa vũ điệu Tândava, tượng trưng cho sự vận hành của vũ trụ tại hí viện Thiên Đàng của thần sét Indra. Khi nhảy múa như vậy, Shiva đã cho phát ra năm cung điệu căn bản. Khi vợ Shiva là nàng Pârvati cất tiếng hát thì có thêm một cung điệu thứ sáu. Sự kết hợp giữa Shiva và Pârvati biểu thị sự kết hợp giữa Chất và Năng chuyển hóa thành các âm điệu và cung bậc. Các cung điệu có liên hệ với toàn thể vũ trụ vì mỗi cung âm có một giá trị riêng biểu thị cho một hệ thống tinh thể, và toàn thể hệ thống tinh thể chính là nguồn gốc các âm thanh phát ra trong vũ trụ. Con trai lớn của cặp vợ chồng Shiva- Pârvatĩ là Kârttikeya đã có công diệt được quỷ Târaka, đem lại yên vui cho thế giới thần linh và được thờ làm thần chiến tranh. Con thứ hai của Shiva và Pârvati là Ganesha, mình người đầu voi, được tín đồ Ấn Độ giáo tin thờ như một phúc thần, ban phát hạnh phúc thịnh vượng cho nhân loại.Shiva là vị thần tiền Veda cổ xưa nhất của dân bản xứ Ấn độ; đến khi đồng hóa với dân tộc Aryan, Shiva đã thay thế cho thần Bão Rudra trong Veda để làm giảm bớt cái ý nghĩa ghê gớm của danh hiệu Rudra. Sống với chết không những chỉ tiếp nối nhau mà còn đồng nhất với nhau. Với tư cách nguyên lý của sáng tạo, Shiva là nguồn sống. Nhưng tại sao người ta lại coi Shiva là biểu hiện cho hủy diệt (Tamas)? Tamas nghĩa đen là tối tăm, biểu thị cho khuynh hướng ly tâm, hủy diệt (trái với sattva biểu thị cho khuynh hướng quy tâm, xây dựng). Vũ trụ càng phân tán tức là càng tan rã, hòa đồng vào đêm tối của vô chất nguyên thủy, chấm dứt mọi sự phân biệt trong không gian và thời gian. “Hữu hình tất hữu hoại” là định luật thiên nhiên tất yếu. Từ u tịch mà có sự sống, sự sống lại trở về u tịch, bởi thế Tamas vừa là nguyên nhân, vừa là cứu cánh của mọi đời sống, và vì cứu cánh quan trọng hơn hết nên Shiva được mệnh danh là thần hủy diệt.

Thần Shiva múa
Với ý nghĩa ấy, Shiva còn được mệnh danh là thần của giấc ngủ. Khi mọi người đã chán hành động, chán sống, chán biết, chán lạc thú và đau khổ, và đi tìm một sự yên nghỉ thực sự trong giấc ngủ say không mộng. Khi ấy họ trở về với Chúa tể của giấc ngủ, chốn yên tịnh, cực lạc (Sambha)
Hiện thân thứ ba của Brahmâ chính là thần Vishnu, cũng như giữa hai đầu sinh và tử là sự sống, giữa thần Sáng Tạo Brahmâ và thần Hủy Diệt Shiva, có thần Bảo Hộ Vishnu. Vishnu sẵn sàng che chở và cứu giúp con người. Khi cần đến, Vishnu sẽ giáng trần để trực tiếp ra tay tế độ chúng sinh. Bởi bản tính tốt lành ấy, đền thờ Vishnu đầy rẫy khắp Ấn Độ và người ta đã mệnh danh Vishnu bằng những danh hiệu vô cùng tốt đẹp như Thánh của các Thánh (Pavitram pvitrânâm), Đạo (Marga), chân lý (Tattva), Từ phụ (Pitâ),
thân Hữu (Suhrid)… Danh từ Vishnu do tự căn Vish nghĩa là tràn lan thấm nhập. Vishnu biểu hiện phẩm tính thuần khiết (Sattva) có khuynh hướng quy tâm, trái với phẩm tính hủy diệt (Tamas) có khuynh hướng ly tâm mà Shiva là biểu hiện. Thần Vishnu có mười hóa thân cứu giúp nhân loại trong những lúc nguy nan nhất. đó là:
1-Mastya: Con cá từng bảo vệ cho Manu, thuỷ tổ loài người trong cơn đại hồng thuỷ.
2-Con rùa Kurina (kurma): chở hòn núi Mandara trên lưng trong khi khuấy đảo biển sữa.
3-Varaha: Con heo rừng đã cứu cả trái đất.
4-Narasimha: hoá thân sư tử vương giết chết con quỷ Hiranyakashipu - hiện thân của Ravana.
5-Chàng lùn Vamana: cứu thế giới khỏi tay con quỉ Bali
6-Parasurama: người tạo ra tầng lớp Satđếlỵ mới.
7-Hoàng tử Rama: nhân vật chính trong sử thi Ramayana của Ấn Độ.
8-Thần Krisna: vị thần tài năng với cây sáo mê hồn.
9-Sakya Muni (Đức Phật): cứu giúp những kẻ xấu lầm đường lạc lối trở về đường chính.
10-Kalkin (Kali Yuga) : Hoá thân thứ 10 này sẽ hiện ra cuối kỷ nguyên hiện tại để lập ra kỉ nguyên mới.

Thần Vishnu và vợ là thần Laskmi – nữ thần giàu có và may mắn
 
Hai hình ảnh thông thường nhất cho ta thấy Vishnu nằm nghỉ trên mình của xà thần Shesha (Di Tích), bềnh bồng trên mặt biển nguyên thủy Ananta (Vô Biên), từ rốn thần mọc ra bông hoa sin và Brahmâ ngồi trên đó làm công việc sáng tạo thế giới. Hoặc Vishnu đứng thẳng, bốn bàn tay nắm giữ bốn vật tượng trưng là vỏ ốc, đĩa tròn, bông sen và cái chùy. Vỏ ốc tượng trưng ngũ hành; cái đĩa sáng như mặt trời tượng trưng thần trí; bông sen tượng trưng vũ trụ vận hành; và cái chùy tượng trưng cho trí thức nguyên thủy.

10 hiện thân của thần Vishnu

Thần Vishnu 4 tay

Thần Vishnu nằm trên rắn thần Shesha
Trong quan điểm về thế giới, trái với tư tưởng trong kinh Vêđa và kinh Upanishad cũng như trong giáo lý đạo Bàlamôn, thừa nhận sự tồn tại của một thự thể siêu nhiên sáng tạo và chi phối vũ trụ vạn vật – đó là Brahmâ, Thượng đế; Phật giáo cho rằng thế giới về bản chất chỉ là một dòng biến ảo vô thường, không do một vị thần nào sáng tạo ra cả. Do vậy, trong thế giới không thực có vật, không thực có cái ngã, không có thực thể nào tồn tại thường định và vĩnh viễn. Theo triết lý Phật giáo, sở dĩ vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả. Cái nhân (hetu) nhờ có duyên trợ (pratitya) mà trở thành quả (phala); quả mới lại nhờ duyên mới trợ giúp mà tạo thành quả mới …Cứ như vậy, thế giới sự vật, hiện tượng cứ sinh hóa, biến hiện không ngừng không nghỉ theo quá trình sinh, thành, dị, diệt hay thành, trụ, hoại không. Quá trình đó có thể diễn ra trong nháy mắt (một satna, một niệm) hay trong từng giai đoạn có sự biến đổi về chất. Vì thế, kinh Pháp cú đã viết: “các hành đều vô thường… Khi đem trí tuệ soi xét được như thế thì sẽ nhằm lìa thống khổ”.

 

KẾT LUẬN

Như vậy, quá trình phát sinh và phát triển của tư tưởng triết học, tôn giáo trong thánh kinh Veda, đặc biệt là trong kinh Rig –Veda là sự tự giải thích các sự vật hiện tượng riêng lẻ của thế giới qua biểu tượng các vị thần có tính chất tự nhiên, người Ấn Độ cổ đã đi tới phát hiện ra cái chung, cái bản chất, là bản nguyên tối cao của thế giới, qua biểu tượng về “Đấng sáng tạo tối cao” Prajapati, Brahmâ, Purusha hay “tinh thần vũ trụ tối cao” Brahman. Đó là bước chuyển từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang thế giới quan triết học, là lôgích phát triển nội tại, tất yếu của tư duy triết học, tôn giáo Ấn Độ cổ đại. Xu hướng đó được biểu hiện rõ trong kinh Upanishad, trong Bhagavad –Gita và trong Véndata – những hình thức bình chứ, giải thích, kế thừa và phát triển mặt triết học của kinh Veda, bên cạnh việc khai thác mặt nghi thức tế tự của kinh Veda, như Brahmanas (kinh Bàlamôn) và Purva Mimansa…
Nhận định về kinh veda, Jawaharlal Nehru đã viết: “những bài thánh ca Veda này đã được Rabindranath Tagore miên tả là một di chúc nên thơ về phản ứng tập thể của một dân tộc trước những điều kỳ diệu và nỗi kinh hoàng của cuộc sống. Một dân tộc với sức sống sáng tạo mạnh mẽ và chất phác ở ngay buổi bình minh của nền văn minh đã có được ý thức lý giải các bí ẩn vô tận ẩn tàng trong cuộc sống. Lòng tin đơn giản của họ đã quy định tính thần thánh cho mọi nhân tố và sức mạnh của thiên nhiên, nhưng đó là niềm tin dũng cảm và đày đủ vui sướng, trong đó ý thức về sự huyền bí chỉ tạo cho cuộc sống sự say mê, chứ không phải làm cho nó trở nên nặng nề với những trở ngại lòng tin của một giống người không phải chịu gánh nặng của việc nghiền ngẫm tri thức về tính nhiều vẻ mâu thuẫn nhau của thế giới khách quan, tuy lúc này lúc khác được soi sáng nhờ kinh nghiệm trực giác.

 
Home Tin tức Nội san Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ thời kỳ đầu trong kinh VÊĐA
   Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh 
140 Lê Trọng Tấn, P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú, Tp. HCM   Điện thoại: 08. 38161673 - Email: cntp@cntp.edu.vn