Tải logo CNTP

 
 
Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
Hiện có 206 khách Trực tuyến
 

 

Tính mở của văn hóa nam bộ thể hiện qua nghệ thuật cải lương In
05-02-2010

CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VĂN HÓA NAM BỘ

1.1. Khái quát lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ

1.1.1. Lịch sử hình thành

Cách nay khoảng 4000 năm đến 2500 năm, những cư dân bản địa của văn hóa Đồng Nam từ vùng miền Đông Nam Bộ như Stiêng , Chơ Ro , Mạ . .. đã di cư xuống đồng bằng sông cửu long và định cư ở đó.  Từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ VII, hình thành vương quốc Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa óc Eo. Từ thế kỷ thứ VII Phù Nam bị Chân lạp xâm chiếm sau đó chia  thành Lục Chân Lạp (địa phận Campuchia hiện nay ) và Thủy Chân Lạp (địa phận Nam Bộ hiện nay). Thủy Chân Lạp hoang vắng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII. Chỉ mới khoảng Thế kỉ XIII người Khmer mới từ Campuchia đến cư trú rải rác thành những nhóm nhỏ tại Thủy Chân Lạp. Từ thế kỷ thứ XVI đến XVII cư dân Việt từ Đàng Trong ( sau đó từ miền Bắc , miền Trung )  di cư  vào lập nghiệp này càng đông .  Năm 1698,  Chúa Nguyến cử Nguyễn Hữu Cảnh vào lập phủ Gia Định, đến năm  1757, Nam Bộ hình thành chính thức đến mũi Cà Mau – Xác lập chủ quyền của Việt Nam .

1.1.2. Điều kiện tự nhiên

Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa . Thời tiết có hai mùa mưa và mùa nắng . Ở Nam Bộ, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa những tháng còn lại không mưa gọi là mùa khô nên hầu như nơi đây nóng quanh năm và không có mùa đông. Riêng đồng bằng sông Cửu Long từ tháng 8 thường có lũ lụt , ngập khoảng 25% diện tích (Đồng Tháp , An Giang,…) Nhiệt độ trung bình cả năm là 260 C.
Mật độ sông ngòi dày đặt. Sông lớn sông bé khắp nơi. Ở Nam Bộ có hai nhóm sông chính Tiền Giang và Hậu giang, Sông Tiền có dòng chảy mở rộng quanh co, giữa sông có những cù lao lớn, nước chảy chậm, bồi đắp phù sao cho vùng Sa Đéc, Mỹ Tho rất thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt. Sông Hậu được hình thành muộn hơn, dòng chảy thẳng và nhanh. Vùng đất quanh sông Hậu mới được khai phá mạnh
vào đầu thời kỳ hình thành con sông này. Thiên nhiên Nam Bộ tương đối đồng nhất , tuy nhiên cũng có những dị biệt về địa chất :
- Miền Tây - Đồng bằng sông Cửu Long hình thành từ quá trình lùi dần của biển cổ ( Vùng Cà Mau có khoảng 1000 năm trước) Toàn bộ vùng đồng bằng này là sản phẩm bồi lắng phù sa rất lâu đời của sông Cửu Long ( 1 tỉ tấn phù sa/ năm) . Chính vì vậy địa hình nơi đây chịu tác động của sông biển với hệ thống kênh rạch chằng chịt ( 50 000 km kênh rạch , trong đó 25 000 kênh rạch nhân tạo )
- Miền Đông Nam Bộ : hệ sinh thái vừa có sông ngòi vừa có rừng , núi…Đông Nam Bộ có đồng bằng sông Đồng Nai và các chi lưu của nó là sông La Ngà , sông Sài Gòn , sông Vàm Cỏ tạo nên một đồng bằng nhỏ , có những thềm phù xa cổ ( cùng đất xám) và các cao nguyên đất đỏ bazan .

1.1.3. Tính cách  con người Nam Bộ

Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú. Nam bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của nông thôn Nam bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử.
Nam bộ từ miền đất hoang vu rừng thẳm, nhiều sông rạch, đầm lầy "muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lộí như bánh canh , trên rừng nhiều thú dữ, rắn độc và động vật quý. Dưới nước tôm cá bạt ngàn, còn có cá sấu, cá mập. Người nông dân Nam bộ lao động cần cù, dũng cảm. Thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước cải tạo tự nhiên, phòng chống thú dữ trên rừng, dưới nước để sản xuất và bảo vệ sản xuất. Ðể tồn tại và phát triển giống nòi, sản xuất và bảo vệ sản xuất tất yếu các gia đình nông dân trong họ tộc, trong xóm làng liên kết lại (hợp tác) lao động đổi công phá rừng làm ruộng rẫy, đào sông rạch, làm đường giao thông: săn bắn thú dữ, cưu mang đùm bọc "thương nguời như thể thương thân" giúp đỡ nhau chén cơm manh áo, con giống, hạt giống, đúng với câu ca truyền miệng gần như nông dân Nam bộ ai cũng thuộc lòng "một miếng khi đói bằng cả gói khi no" trong sản xuất và đời sống. Tuy cuộc sống vô cùng cơ cực ngày ngày lao động trên đồng ruộng, đêm đêm nam nữ quây quần giã gạo, chài đôi, chải ba, rồi ca hát hoặc hò đối đáp dưới ánh trăng, tình quê tuy mộc mạc nhưng thấm đậm nghĩa tình.
Những người nông dân có mặt ở vùng đất Nam bộ này hơn 300 năm trước đây là những nông dân đến từ nhiều vùng ở miền Trung, miền Bắc. Tuy buổi đầu lập nghiệp trên vùng đất hoang sơ trăm đắng ngàn cay bời rừng thiêng nước độc, thú dữ, người nông dân thiếu cả công cụ, phương tiện lao động... nhưng mọi người kiên cường bám trụ "đến đây thì ở tại đây trăm năm bám rễ xanh cây không về". Bám rễ xanh cây không chỉ có nghĩa lao động sáng tạo ra của cải vật chất trên nền nông nghiệp phì nhiêu trù phú, mà sự xanh cây bám rễ còn có nghĩa mối quan hệ giữa người với người từ bốn phương tụ hội trên mảnh đất Nam bộ ấm áp tình người. Tấm lòng người nông dân Nam bộ xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho những ai biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không tha thử kẻ gian ác, điêu ngoa. Họ coi trọng nhân – nghĩa – trí – dũng - liêm, lòng thương người bao la vô tận, nhưng rất ghét bọn gian tà, tham nhũng, xu nịnh, những kẻ "tham phú phụ bần". Nếu ai là người lương thiện có đạo đức làm người, sống trung thực, nhân nghĩa dẫu từ đâu đến với xóm làng nào Nam bộ thì cũng được nông dân đón tiếp thân tình theo đúng nghĩa "tứ hải giai huynh đệ", sẵn sàng cưu mang giúp đỡ người đói rét, bệnh tật "anh em như thể tay chân" hay là "Bầu ơi thương lắy bl cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".

 

CHƯƠNG 2: VĂN HÓA NAM BỘ THỂ HIỆN QUA NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG

2.1. Xuất xứ tên gọi

            Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ
Giải thích chữ "Cải lương" (改良) theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: "Cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn", thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.
Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy "có người cho rằng Cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918", nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới "bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách...nên Cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ..."
Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Đệ nhất thế chiến), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu.... Nhân cơ hội ấy, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật Cải lương. Đến năm 1920, cái tên “Cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:
Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.

2.2. Những biểu hiện của “tính mở  văn hóa Nam Bộ thể hiện qua nghệ thuật Cải lương”

2.2.1. Tính mở

            Như đã trình bày ở phần trên, do vị trí địa lý và thiên thuận lợi nên từ xưa Nam Bộ được xem là một mảnh đất “lành” thu hút nhiều dân tộc đến cư trú, mỗi cộng đồng người ấy mang trong mình hành trang đến vùng đất mới là những phong tục, tập quán… của riêng họ. Thêm vào đó do ảnh hưởng của những yếu tố chính trị mà những cư dân xa xôi từ trời Tây cũng đến mảnh đất này. Và chính nhu cầu của cuộc sống, các đồng người này gắn bó mật thiết với nhau, chấp nhận cả những di biệt về mặt văn hóa của nhau, từ đó trở thành một nét truyền thống của văn hóa Nam Bộ. Ngay cả khi bị xâm lược, cho dù có căm ghét kẻ thù đến đâu nhưng người dân nơi đây vẫn bao dung, tiếp nhận những nền văn hóa mới, đó chính là tính mở của văn hóa Nam Bộ.
Tính mở của văn hóa Nam Bộ là gì? Đó là quá trình thích nghi, biến đổi liên tục do sự du nhập những yếu tố văn hóa mới.

2.2.2. Quá trình hình thành nghệ thuật Cải lương

2.2.2.1. Từ dàn nhạc lễ đến loại hình đờn ca tài tử

            Khi tìm hiểu quá trình hình thành nghệ thuật Cải lương không thể không nhắc đến loại hình nghệ thuật cổ xưa và là chất liệu đầu tiên hình thành nghệ thuật Cải lương – đó chính là dàn nhạc lễ.


Biểu diễn nhạc Lễ

Khi Nguyễn Hữu Cảnh và những lưu dân đầu tiên từ nhiều vùng đất khác nhau, Bắc có, Trung có di cư vào Nam Bộ, dù khởi nguyên, gốc gác của họ từ nguồn nào đi chăng nữa nhưng  hành trang mà họ đem theo không phải chỉ có vật dụng, tư liệu sản xuất, gia đình, mà còn là vốn văn hóa ẩn trong tiềm thức. Tất cả vốn văn hóa này được đem vào châu thổ sông Cửu Long. Trong số đó không thể không nhắc đến dàn nhạc lễ (nhạc ngũ âm) để sử dụng trong tang ma, hiếu hỉ. Từ xa xưa, dàn nhạc lễ xuất xứ từ Miền Bắc này gồm có 8 nhạc khí cấu tạo bằng các chất liệu khác nhau:  Bào (bầu), Thổ (đất), Cách (da), Mộc (gỗ), Thạch (đá), Kim (kim khí) Ty (tơ), Trúc (tre nứa). Khi vào mảnh đất Nam Bộ được biến đổi thành hai phe “văn” gồm đàn cò, sáo, song lang, trống nhỏ và phe “vỏ” gồm trống lớn, kèn trung, thanh la, chũm choẹc, cái bồng.  Dàn nhạc lễ của những lưu dân xa xứ kia đã gặp gỡ và kết hợp với loại hình diễn xướng của dân bản xứ và “đờn ca tài tử” ra đời từ đó.

 

 

 

 


Đờn ca tài tử

 Đờn ca tài tử (còn gọi là nhạc tài tử) được phát triển chủ yếu tại miền Nam Việt Nam. Thuật ngữ tài tử có thể hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, tài tử là những người tài năng, những bậc thầy tham gia trình diễn; thứ hai, tài tử là những người nghiệp dư, gồm cả những bậc thầy - nhưng không lấy đó làm kế sinh nhai - tham gia biểu diễn. Tuy có nguồn gốc từ trung bộ, nhưng đờn ca tài tử có nhiều điểm khác so với các loại hình diễn xướng tại miền trung. Ví dụ:trong ca trù và ca Huế ca sĩ thường là phụ nữ, nhưng trong nhạc tài tử, ca sĩ nam và nữ đều có vai trò ca hát bình đẳng. Dàn nhạc của đờn ca tài tử có nhiều nhạc cụ hơn dàn nhạc của ca trù và ca Huế Các nhạc cụ sử dụng trong nhạc tài tử thường có đàn tranh, cò, kìm, gáo, độc huyền, song lang, và ống tiêu ..v.v.. Khi biểu diễn nhạc tài tử, các nghệ sĩ thường chú trọng đến sự kết hợp của các nhạc cụ có âm sắc khác nhau; ít thấy có sự kết hợp giữa các nhạc cụ cùng âm sắc. Thường thấy nhất là song tấu đàn kìm và đàn tranh - là sự kết hợp giữa tiếng tơ và tiếng sắt. Một điểm đặc biệt của nhạc tài tử là lối đàn ngẫu hứng - tương tự lối chơi ngẫu hứng trong nhạc jazz của Mỹ. Ở đây, người nghệ sĩ dựa trên bài bản truyền thống để thêm thắt những nhấn nhá, luyến láy của riêng mình một cách rất tinh tế dựa trên hơi và điệu của những chữ nhạc chính, nhưng đồng thời phải hòa hợp với những nghệ sĩ cùng diễn khác. Chính vì thế mà mỗi lần nghe lại cùng bản đàn, khán thính giả luôn luôn thấy mới lạ và hài hòa. Có lẽ phần ngẫu hứng nhiều nhất trong nhạc tài tử là ở phần rao của người đàn hoặc nói lối của người ca. Người đàn dùng rao, hoặc người ca dùng nói lối, để lên dây đàn và nhất là với mục đích gợi cảm hứng cho bạn diễn, tạo không khí cho dàn tấu, và chuẩn bị hình tượng âm nhạc cho người thưởng thức. Ngoài ra, khi trình tấu, các nghệ sĩ cũng có thể dùng tiếng đàn của mình để "đối đáp" hoặc "thách thức" với người đồng diễn.
Nhạc tài tử đã kế thừa những tinh hoa của truyền thống ca nhạc dân tộc và tiếp thu có chọn lọc những cái hay từ bên ngoài đưa lại rồi sáng tạo và phát triển thêm. Trước hết là việc sử dụng, phục hồi và nâng cao các bản dân ca Nam Bộ như : Lý con sáo, Lý chuồn chuồn, Lý giao duyên, Lý vọng phu … Những bài dân ca Huế khi  lan  truyền vào Nam Bộ cũng được cải biên cho phù hợp với tính chất của miền đất này. Như bài Lý ngựa ô Huế khi vào đến Nam Bộ đã đẻ ra hai bài Lý ngựa ô Bắc và Lý ngựa ô Nam. Bài Tứ đại cảnh khi vượt qua đèo Hải Vân đã biến thành bài Tứ đại oán. Nhạc miền Trung khi phát triển vào Nam Bộ thì bị mất một phần đặc điểm chủ yếu và bị lệ thuộc vào tiết tấu sinh hoạt và ngôn ngữ của người Nam Bộ. Trong 10 bài ngự của Huế gồm Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hườn, Bình bán (Bình nguyên), Tây mai, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã, thì những bài Kim tiền, Xuân phong, Long hổ, Tẩu mã được phổ biến nhiều nhất. Tuy vậy những bài này cũng đã được cải biên từ “lòng bản” đến cách diễn tấu có khác với nhạc Huế. Ngoài ra những bản khác nằm trong loại “bản nhạc” như Lưu thủy, Cổ bản, Phú lục thì được phát triển thành những bản nhạc dài. Ngoài các dạng thang âm: điệu thức Bắc, Nam Ai và Nam Xuân, nhạc tài tử còn sử dụng và khai thác một dạng khác nữa, đó là điệu thức Oán. Điệu Oán là hệ quả của mối giao lưu văn hóa giữa nhạc Việt và nhạc Chàm, trong tiến trình lịch sử lâu dài, trở thành sắc thái điệu thức đặc thù của nhạc tài tử và Cải lương sau này.
Đờn ca tài tử trước hết là một loại hình giải trí của người nông dân sau những giờ lao động mệt nhọc, là tiếng tâm tình của những người xa xứ vọng về cố hương là nổi niềm u uất trước thế sự và thời cuộc.

2.2.2.2. Từ loại hình ca ra bộ đến nghệ thuật Cải lương


Biểu diễn ca ra bộ

Với sự ra đời của đờn ca tài tử, sau đó được bổ sung vào những yếu tố của Hát bội, những sắc thái cổ truyền của nhạc Campuchia, Chàm dẫn đến sự ra đời của nhiều nhóm hát đơn ca tài tử. Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp khuyến khích các nhóm hát dịch các tác phẩm của Molière hay của Victor Hugo ra tiếng Việt để diễn cho người mình xem. Cũng trong thời gian ấy, nhóm hát của cô Ba Đắc được mời sang Pháp biểu diễn đờn ca tài tử. Tại đây đã diễn ra một biến cố quan trọng, đứng trước sân khấu hộp truyền thống của người Phương Tây, đòi hỏi các diễn viên không thể ngồi biểu diễn theo lối truyền thống mà phải đứng và ra các điệu bộ, cử chỉ tự nhiên phù hợp với nội dung trình bày và ca ra bộ ra đời từ đó.
Với sự ảnh hưởng của kịch nói Pháp, những màn ca ra bộ bắt đầu. 1910, ở Mỹ Tho, ông Nguyễn Tống Triều (Tư Triều) đã cho thành lập ban “ca ra bộ”. Ca ra bộ là những ca khúc khi hát có thêm minh hoạ bằng điệu bộ, là quá trình chuyển từ hình thái âm nhạc sang sân khấu. Không gian biểu diễn của ca ra bộ là bộ ván ngựa,  cái bàn có đặt lư trầm, một dĩa trái cây và một bình bông. Đằng sau đó là một bức màn vải để làm phông nền. Từ ca ra bộ phát triển thành hát chập. Hát chập là nhiều người cùng diễn một bài ca hoặc nhiều bài nối tiếp chung một cốt truyện, động tác biểu diễn linh hoạt phong phú. Từ một vài bài ca cho đến nhiều bài ca kết thành vở diễn hoàn chỉnh, và vở Cải lương đầu tiên là vở “Lục Vân Tiên”
Như vậy ngay trong quá trình hình thành nghệ thuật Cải lương, ta thấy có sự giao lưu tiếp biến liên tục từ những câu hò, điệu lý bản xứ, Hát bội từ Trung Hoa, nhạc lễ, nhạc cung đình Huế để rồi hình thành nên đờn ca tài tử, không dừng lại ở đó, tiếp tục kết hợp với kiến trúc sân khấu và kịch nói của Phương Tây để hình thành nghệ thuật Cải lương. Đó là một quá trình phát triển phát triển lâu dài, nhưng nguyên nhân do đâu, đó chính là tính mở của văn hóa Nam Bộ.

2.2.3. Âm nhạc trong nghệ thuật Cải lương

            Âm nhạc Cải lương chịu ảnh hưởng của hai nền nhạc lớn đã có từ thời cổ và tồn tại đến bây giờ, đó là nền ca hát dân gian và nền nhạc khí dân gian. Hai nền nhạc này tạo cho Cải lương một phong cách đặc biệt, do đó trong âm nhạc Cải lương, yếu tố ca hát và yếu tố nhạc khí cùng thúc đẩy nhau phát triển và tạo ra một hình thức đối lập trong nhiều bè, mở đường cho sự nảy nở của tính chất sân khấu. Tại Miền Nam hiện nay dân chúng chỉ còn được nghe khí nhạc thuộc loại tế tự (nhạc lễ) còn âm hưởng của nhạc cung đình thì đã thuộc về dĩ vãng.
Từ khi chữ Nôm bắt đầu xuất hiện thì thơ ca dân gian càng phát triển, chữ Nôm dùng để sáng tác các bản nhạc. Nhà Lê, ngoài các bậc công hầu ra, trong hàng sĩ phu phần đông đều có hiểu biết về niêm luật âm nhạc. ở Huế đã hình thành nền nhã nhạc, yếu tố bác học làm cơ sở cho sự kế thừa và phát triển của phong trào ca nhạc tài tử Miền Nam.
Ngoài những cố gắng sáng tạo thêm hình loại khúc thức mới, các nhà âm nhạc còn khái quát hóa toàn bộ hệ thống điệu thức trong nhạc truyền thống và phân chia thành các loại hơi chủ yếu như: hơi Bắc, hơi Nam, hơi Oán, v.v.. Hơi Bắc khái quát các điệu thức mang tính chất trong sáng, vui khỏe. Hơi Nam khái quát các điệu thức mang tính chất trang nghiêm và đồng thời được phân chia thành một số hơi cụ thể như sau: hơi Xuân, hơi Ai, hơi Ðảo. Hơi Oán là hơi được sáng tạo sau này, hoàn toàn thoát ly những hình thức cấu tạo theo kiểu nhạc lễ, đó là hơi thở của cuộc sống thời bấy giờ.

Cao Văn Lầu (Sáu Lầu)

Ngoài ra chất liệu quan trọng nhất tạo thành âm nhạc Cải lương lại chính là vọng cổ. Vọng cổ là một điệu nhạc rất thịnh hành ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Việt Nam. Nó được bắt nguồn từ bài "Dạ Cổ Hoài Lang" (nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng) của nghệ sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu). Bản vọng cổ là một trong những điệu nhạc căn bản của sân khấu Cải lương. Ngay từ thời mới ra đời chỉ mới có nhịp đôi, tuy nhiên, không thỏa mãn được nhu cầu của các nhà soạn nhạc sau đó được tăng lên 4 nhịp, tức nhịp tư, (1927-1935). Sau đó tăng lên nhịp tám năm 1936-1945, và cũng khoảng thời gian này được mang tên bản "Vọng cổ". Từ nhịp tám lên nhịp 16, 32, 64, 128, ... Bản thông dụng nhất hiện nay là bản nhịp 32.
Trong âm nhạc, Cải lương củng có sự tiếp biến, giao lưu và biến đổi liên tục, trong âm nhạc Cải lương ta có thể bắt gặp những nyếu tố truyền thống của nhạc Chămpa, Trung Hoa, nhạc tế tự, những làn hơi như ai oán của những người con xa xứ hay những giọng điểu trẻ trung mượt mà. Ngay bản than vọng cổ cũng có sự cách tân và biến đổi liên tục từ bài vọng cổ đầu tiên nhịp đôi đến bài vọng cổ 32 nhịp. Những thứ ấy đã làm cho nghệ thuật Cải lương tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay.

 

2.2.4. Nhạc cụ

            Nhạc cụ trong dàn nhạc Cải lương rất phong phú và đa dạng, có sự hiện diện của nhiều loại nhạc cụ của các dân tộc khác nhau như Trung Hoa, Hy Lạp, Mông Cổ, Phương Tây, Chămpa. Tất cả những loại nhạc cụ ấy đều được chấp nhận trong dàn nhạc Cải lương, hòa quện một cách đồng điệu làm say mê biết bao thế hệ

Đàn tranh

Đàn tranh: hay còn gọi là cổ cầm, đây là loại nhạc cụ cổ nhất của Trung Quốc tương truyền xuất hiện từ thời vua Ngưu, vua Thuấn. Đàn có 16 dây,  thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp

            

Đàn bầu

Đàn Bầu: Đàn Bầu có tên chữ là Độc Huyền Cầm, là nhạc cụ đàn một dây của người Việt, gảy bằng que hoặc miếng gảy. Đàn có hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ.
Đàn thân tre: là đàn của những người hát Xẩm. Thân đàn làm bằng 1 đoạn tre hoặc bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương.

Đàn đáy

Đàn đáy: Đây là một trong những cây đàn dài nhất do người Việt nam chế tác vào thời Lê (thế kỷ XV-XVIII ). Ngày xưa nó còn có tên Vô để cầm( đàn không đáy) hay có người gọi là Đới cầm…Trong lối hát Ả đào hay ca trù ,đàn đáy lá nhạc nhạc cụ duy nhất cùng với phách và trống đế, sau khi du nhập vào Miền Nam cây đàn đáy đã hòa hợp với các loại nhạc cụ khác góp phần tạo nên nét đặc sắc trong nghệ thuật Cải lương 

Đàn Tỳ Bà

Đàn Tỳ Bà: xuất hiện tại Hy Lại sau đó được các thương nhân du nhập vào Trung Hoa từ thời nhà Đường với tên gọi PiPa rồi sau đó lan truyền sang Nhật Bản với tên gọi BiWa. Mặc dù đàn Tỳ Bà có xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc.

Đàn Nguyệt

Đàn nguyệt: hay còn gọi là đàn Kìm, được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc dân gian cũng như cung đình bác học cổ truyền của người Việt. Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho tới nay nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt và là nhạc cụ chủ yếu dành cho nam giới.

 


Đàn cò

Đàn cò: hay còn gọi là Mã Đầu Cầm là một nhạc cụ xuất hiện tại Mông Cổ, được làm từ đầu Ngựa. Du nhập sang Việt Nam được gọi là đàn Nhị, vì đàn có hai dây. Người dân Nam bộ gọi là “đàn cò” vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò- Cần đờn như cổ cò - thân đờn như con cò - tiến đờn nghe lảnh lót như tiếng cò. Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhặc tài tử, Cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca… đều có đờn cò.

 

Đàn Gáo

Đàn Gáo: là nhạc khí dây kéo (cung vĩ), là một cải biên của Việt Nam từ loại Nhị Hồ (Trung Quốc) được nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam. Đàn Gáo có màu âm trầm hơn đàn Cò lòn, đầy đặn, rộng rãi chắc chắn hơn. Màu âm Ðàn Hồ đẹp, ấm hơi trầm phù hợp với tình cảm sâu lắng. Đàn Gáo tham gia trong dàn Nhã nhạc, Phường Bát âm, dàn nhạc Sân khấu Tuồng, Chèo. Ðàn Gáo giữ vai trò quan trọng trong ban nhạc Xẩm, đệm cho các giọng thổ (trung, trầm). Ðàn Gáo (Ðàn Hồ) không thấy có mặt trong các biên chế Dàn nhạc Cung đình ngày trước, cũng như trong Dàn nhạc Tài tử miền Nam, đó là điểm duy nhất mà nó khác với Ðàn Cò. Nhưng nói chung Ðàn Gáo luôn cặp kè chung với Cò (Nhị) trong các Dàn nhạc Sân khấu cổ truyền, Cải lương và trong phe văn Dàn nhạc Lễ. “Gáo” và “Cò” là những sáng tạo đặc sắc về mặt ngôn ngữ của dân Nam Bộ   



Ghi-ta

Ghi-Ta: là nhạc khí dây gảy loại có dọc (cần đàn), có nguồn gốc từ Tây Ban Nha nhập vào Việt Nam, được người Việt cải tạo và trở thành nhạc khí Việt Nam.Màu âm Ðàn Ghi-ta Việt Nam trong sáng mà lại ấm, vang. Đàn Ghi-Ta Việt- Nam còn được gọi là Ghi-Ta phím lõm hay Ghi-Ta Vọng Cổ, Ðàn Lục Huyền Cầm hoặc Ghi-Ta Cải lương rất thịnh hành tại Việt Nam. Ghi-Ta Việt- Nam là cây đàn được cải biến từ Ðàn Guitare cổ điển, phát sinh từ vùng đất Nam Bộ Việt Nam.Đàn Ghi-ta Việt Nam chủ yếu được sử dụng trong các buổi đàn ca Tài tử hoặc trong các Dàn nhạc Cải lương (Ghi-Ta phím lõm điện).

2.2.5. Ca nhạc
Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, Cải lương được gọi là ca kịch vì ở đây ca kịch giữ vai trò chủ yếu. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc cho phù hợp với các tình huống sắc thái tình cảm.

   
Như vậy, nói chung về ca nhạc, sân khấu Cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Lục Tỉnh. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang sau này mang tên Vọng cổ là một dân ca nổi tiếng của sân khấu Cải lương). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã được phổ biến từ lâu trong dân chúng Lục Tĩnh, đã Việt Nam hóa.

2.2.6. Diễn xuất

 Diễn viên Cải lương diễn xuất một cách tự nhiên, nhất là khi diễn về đề tài xã hội thì diễn viên diễn xuất như kịch nói. Khác với kịch nói ở chỗ đáng lẽ nói, diễn viên ca, cho nên cử chỉ điệu bộ cũng uyển chuyển, mềm mại theo lời ca. Dù không giống như cử chỉ điệu bộ của diễn viên kịch nói, mà vẫn gần với hiện thực chứ không cường điệu như hát bội. Cải lương cũng có múa và diễn võ nhưng nhìn chung là những động tác trong sinh hoạt để hài hoà với lời ca chứ không phải là
hình thức bắt buộc.
2.2.7. Y phục
Trong các vở về đề tài xã hội diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời. Trong các vở diễn về đề tài lịch sử dân tộc, về các truyện cũ của Trung Hoa, phóng tác từ những câu chuyện, hay các vở kịch từ nước ngoài thì y phục của diễn viên cũng được chọn lựa để gợi ra xuất xứ của cốt truyện và của nhân vật, nhưng cũng chỉ mới có tính là ước lệ thôi chứ chưa đúng với hiện thực.

2.2.7. Đề tài và cốt truyện

Các vở Cải lương ngay từ đầu đều khai thác các truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện trong khung cảnh xã hội Việt Nam. Sau đó chiều theo thị hiếu của khán giả sân khấu Cải lương cũng có một số vở soạn theo các truyện, tích của Trung Hoa đã được đưa lên sân khấu hát Bội và được khán giả rất ưa thích. Sau này nhiều soạn giả, kể cả soạn giả xuất thân từ tân học cũng soạn vở dựa theo truyện xưa của Trung Quốc hoặc dựng lên những cốt truyện với nhân vật, địa danh có vẻ của Trung Quốc nhưng những cảnh ngộ, tình tiết thì của xã hội Việt Nam. 

 

KẾT LUẬN

            Nghệ thuật Cải lương là loại hình nghệ thuật đặc sắc của văn hóa Nam Bộ, trong quá trình hình thành và phát triển Cải lương không ngừng biến đổi để thích nghi với điều kiện mới. Từ đờn ca tài tử đến ca ra bộ đến hát chậpo và cuối cùng  đến Cải lương.
Sức sống của Cải lương còn thể hiện qua việc du nhập nhiều yếu tố văn hóa khác nhau, trong Cải lương ta có thể bắt gặp hơi hướng của nhạc lễ, lối diễn xuất kịch nói của Phương Tây, các loại nhạc cụ có nguồn gốc từ Trung Hoa… Cải lương luôn tự mình làm mới để tồn tại và phát triển
Chúng ta thử làm một phép so sánh nhỏ giữa Cải lương với các loại hình diễn xướng khác như Chèo của Miền Bắc sẽ thấy rõ sự khác nhau về mặt văn hóa. Văn hóa Bắc Bộ thiên về âm tính, hướng nội mang tính truyền thống, bền vững và bảo thủ. Do đó, nghệ thuật chèo tồn tại qua bao đơi nay hầu như không có thay đổi gì đáng kể. Nhưng đứng trước xã hội hiện đại, Chèo đang dần mất đi vị thế của mình ngay cả trên quê hương đã sinh ra nó. Nhưng Cải lương lại khác, được nảy sinh từ Nam Bộ, được hút đúc từ tính cách phóng khoáng, cởi mở của con người Phương Nam, Cải lương luôn tự mình biến đổi để thích hợp với từng hoàn cảnh khác nhau. Chèo không thể Nam tiến, nhưng ngược lại Cải lương có thể Bắc tiến và phát triển rất mạnh. Những đoàn Cải lương Nam Định, Ninh Bình, Hà Nội là minh chứng sống động cho sự trường tồn của nghệ thuật Cải lương.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hồ Trường An, Sàn gỗ màn nhung: lịch sử Cải lương Việt Nam, Nxb Văn nghệ 2000
  2. Nguyễn Đăng Duy – Văn hóa tâm linh Nam Bộ - Nhà xuất bản Hà Nội , 1998
  3. Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2000
  4. Ngành Mai, Cuộc đời Thanh Nga: tình sử Cải lương, Nxb Văn nghệ, 1998
  5. Vương Hồng Sển – Thuấn Phong, Hồi ký 50 năm mê hát, Nxb văn nghệ 1998
  6. Phan Thị Yến Tuyết,  Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống ở Nam Bộ, Nxb trẻ TP Hồ Chí Minh , 2002
  7. Phan Thị Yến Tuyết, Nhà ở , trang phục , ăn uống của các dân tộc Vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội , 1993
  8. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh , 2001
  9. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam , Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ, Nam Bộ dân tộc và tôn giáo,  Nxb khoa học xã hội , 2005

Các trang web

  1. http://www.vietshare.com/vanhoa/vanhoa.asp
  2. http://bariavungtau.com
  3. http://www.yellowpagetravel.com.vn/index.php/show/23
  4. http://www.thoangsaigon.com/saigon/vhnambo/vhnambo.asp
  5. http://www.danangpt.vnn.vn/home/news/index.php
  6. http://5nam.ttvnol.com/Phutho/496267/trang-3.ttvn
  7. http://www.vietnamtourism.com/v_pages/country/overview.asp
  8. http://www.baocantho.com.vn/vietnam/
  9. http://cailuongvietnam.com/

 

Mục từ “Cải lương” Bách khoa toàn thư Việt Nam

Vương Hổng Sền – Thấn Phong, Hồi ký 50 năm mê hát, Nxb Tp.HCM, 1994 tr9

Sđd, tr 28 - 29

GS Trần Quang Hải, Một vài vấn đề về nhạc cổ truyền của Việt Nam, báo Văn nghệ số 9/1998

Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2000

Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 2000, Tr 25

Sdd tr 28

Sdd tr 31

Sdd tr40

Sdd tr 45

 
Home Tin tức Nội san Tính mở của văn hóa nam bộ thể hiện qua nghệ thuật cải lương
   Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh 
140 Lê Trọng Tấn, P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú, Tp. HCM   Điện thoại: 08. 38161673 - Email: cntp@cntp.edu.vn