|
| Kỹ năng thực hành Tiếng việt - Phạm Nhân Thành |
|
| 09-04-2010 |
|
KĨ NĂNG THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
Phạm Nhân Thành
![]()
1.1. Trước đây không lâu từng có một quảng cáo Trắng gì mà sáng thế. Bất kì người Việt nào cũng thấy cụm từ này có điều không bình thường nhưng không phải ai cũng giải thích được vì sao. Phải có kiến thức về phân loại và cách sử dụng tính từ, về khả năng kết hợp của các trợ từ dùng để hỏi mới chỉ ra được điều “không bình thường” ấy. Nhưng nếu như trong ngôn ngữ quảng cáo (mà thường bị phóng đại là văn hoá quảng cáo) xem việc tạo ra điều “không bình thường” là một thủ thuật thì thông báo dưới đây ở một trường Đại học lại thật thà đến mức phản cảm:
“Sinh viên nợ môn cần hết sức lưu ý liên hệ với các khoa:
Tiếng Anh thì đến khoa Ngoại ngữ
Tài chính doanh nghiệp thì đến khoa Kinh tế
Văn hoá du lịch thì đến khoa Châu Á
Chính trị thì liên hệ tại đây”
Sai lầm chính của thông báo là tác giả đã ngây thơ sử dụng khẩu ngữ vào văn bản hành chính-công vụ (tức là không bỏ từ “thì” không chịu được).
Gần đây, một nhà sản xuất quảng cáo sản phẩm của mình trên các phương tiện thông tin có câu: “Thuốc nam mà hiệu quả”. Không rõ nếu có ai hỏi lại: thế hoá ra xưa nay thuốc nam là thứ dỏm hết hay sao thì nhà sản xuất kia sẽ trả lời thế nào. Chỉ một từ “mà” đã dẫn đến tình trạng dở khóc, dở cười cho thuốc nam khi rơi vào cảnh “thương nhau như thế bằng mười phụ nhau” của ngôn ngữ quảng cáo.
1.2.Ngay đối với người từng cầm bút, việc nhầm lẫn nghĩa của từ gần nghĩa cũng không phải quá hiếm. Chẳng hạn trường hợp của một người viết truyện ngắn:
“Nói làm gì tội nghiệp. Sau khi lành bệnh, con bé ăn nói trở nên rất ngây thơ” (1)
Hoặc cách nói quen thuộc: Chúng tôi chỉ hỗ trợ cho các anh chị kiến thức cơ bản, phần còn lại các anh chị tự học lấy (2)
Ở (1) đúng ra phải dùng từ ngây ngô tác giả lại viết ngây thơ. Ở (2) người nói sử dụng không chính xác từ gốc Hán “hỗ trợ”. Hỗ (trong các kết hợp tương hỗ, hỗ tương...) có nghĩa là lẫn nhau, có qua có lại. Khi công việc chỉ diễn ra với một phía, một chiều (trong trường này là giáo viên truyền thụ kiến thức cho sinh viên) thì không thể nói hỗ trợ mà phải được thay bằng một trong các từ giúp đỡ, truyền thụ, giảng dạy, hướng dẫn...
1.3.Hiểu sai, nhầm hoặc lệch nghĩa của từ là nguyên nhân chính khi sử dụng lẫn lộn hàng loạt từ Hán Việt như yếu điểm/điểm yếu, dân số/số dân, công nhân/nhân công... Tương tự, không phải ai đã là người Việt cũng dễ dàng phân biệt chính xác sắc thái ý nghĩa các từ có một âm tiết cùng âm như kiến thức, nhận thức, ý thức, tri thức, trí thức... hoặc hoàn chỉnh, hoàn bị, hoàn hảo, hoàn mĩ, hoàn tất, hoàn thành, hoàn thiện, hoàn toàn...
Nhân đây xin mời bạn đọc thư giãn với một trắc nghiệm nhỏ:
Điền chính xác các từ đã cho vào chỗ trống
1.3.1.Họ (1) chưa đủ điều kiện để (2) công trình ấy một cách (3) như mong muốn. Không thể có những con người (4) đến mức (5) mọi công việc khác nhau một cách (6) trong thời gian ngắn như vậy.
a.Hoàn chính b.Hoàn hảo c.Hoàn tất d.Hoàn thành e.Hoàn thiện g.Hoàn toàn
1.3.2.Nhờ khắc phục nhanh những (1) của bệnh thành tích nên quá trình đào tạo của trường trong ba năm trở lại đây đạt (2) đáng mừng. (3) này đã ít nhiều chứng minh đó là (4) của quá trình đổi mới.
a.Hệ quả b.Hậu quả c.Hiệu quả d.Kết quả
Có mẩu chuyện vui:
Anh thương binh hỏi người yêu:
-Em yêu anh thế nào?
Cô gái thật thà:
-Em yêu anh chân thật.
Chàng trai sầm mặt, bạt tai người yêu và bỏ đi.
Khi hoàn hồn cô gái mới chợt hiểu ra người yêu của mình bị cụt một chân và đang đi chân giả.
Hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt khá nhiều. Không cẩn trọng trong phát ngôn đôi khi xảy ra nhiều điều ngoài ý muốn. Từng có những chuyện dở khóc, dở cười trong giáo giới khi dùng cụm từ “mất dạy” (không còn giảng dạy nữa) để trêu chọc nhau.
2.1.Chúng ta vẫn thường gặp thói quen viết nghành nghề, ngất nghư... trong nhiều văn bản khác nhau. Nếu người viết có hiểu biết về nguyên tắc kết hợp các nguyên âm mở, nguyên âm khép chắc những sai sót đó sẽ không xảy ra. Theo đó, buộc phải viết ngành nghề, ngất ngư, ngư nghiệp, gồ ghề, ngủ nghỉ... chứ không phải là ngư nghiệp, ghồ ghề, ngủ ngỉ(1). Vẫn biết chữ viết tiếng Việt là thứ chữ ghi âm nhưng không vì thế mà tuỳ tiện nói sao viết vậy. Trong khi chờ đợi quy định khác, người viết cần tuân thủ những định chế vẫn còn hiệu lực để thể hiện tính chuẩn mực tiếng Việt trên văn bản là điều cần thiết.
2.2.Nhiều người thắc mắc, thậm chí tranh cãi gay gắt, viết thế nào cho đúng các từ trau giồi hay trau dồi, giành giật/dành giật, giòng nước/dòng nước, giòng dõi/dòng dõi, buồng ngủ/phòng ngủ, sinh mạng/sinh mệnh, mặc dầu/mặc dù, khai sinh/khai sanh... Dù chậm chạp, ngôn ngữ vẫn không ngừng biến đổi trên nhiều phương diện theo sự phát triển của xã hội. Mặt khác, chính tả tiếng Việt còn phụ thuộc khá lớn vào thói quen phát âm của từng vùng (tiếng địa phương) khác nhau. Hai nguyên nhân này tạo nên những biến thể cùng tồn tại như nhau (xét về mặt giá trị) nên không thể căn cứ vào thói quen sử dụng của cá nhân để giải thích sự đúng sai trong các biến thể song song nêu trên. Cần biết thêm là thói quen phát âm trải qua rất nhiều năm đã được xã hội (cộng đồng) chấp nhận thì có nhiều từ dùng sai lại trở thành “đúng”. Chẳng hạn quen nói (viết, nghe) thống kê mà thực ra thống kế mới đúng. Do đó hiện nay vẫn dùng hiệp chủng quốc/hiệp chúng quốc, an ủi/an ủy, chung cư/chúng cư, bầu cử/bảo cử... mặc dù về cội nguồn, các từ đứng sau mới chính xác.
2.3.Về đại thể, nước ta hiện nay tồn tại ba loại tiếng địa phương (phương ngữ) ứng với ba vùng Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Tiếng địa phương nào cũng có khiếm khuyết riêng trong phát âm kéo theo việc viết sai chính tả. Chẳng hạn tiếng địa phương Trung bộ không phân biệt được âm độ của những từ có dấu thanh hỏi/ngã, có phụ âm cuối c/t (bác/bát, các/cát, mác/mát...) và trường độ của các phụ âm cuối n/ng (ban/bang, tan/tang, san/sang) trong phát âm nên thường viết sai khi gặp các trường hợp này. Cũng thế, phương ngữ Bắc bộ phát âm giống nhau (hoặc lẫn lộn) những từ có phụ âm đầu x/s, l/n, tr/ch, gi/r/d. Kết quả là nhiều lúc khó hiểu nếu không xét chúng trong ngữ cảnh (nước nào/nước Lào, giăng lên/trăng lên, sã Hiệp Đức/xã Hiệp Đức...) và sai chính tả trầm trọng trên văn bản viết do nói (nghe) sao viết vậy. Trong khi đó, vùng Nam bộ ngoài những lỗi phát âm giống phương ngữ Trung bộ còn sai cả về phần vần như ao/au (ngao ngán/ngau ngán, chao/chau...), ay/ai (tay/tai, thay thế/thai thế, may mắn/mai mắn...) và qu/w (qua/wa, quang/wang...). Tuy nhiên cũng cần ghi nhận dù phát âm như vậy nhưng người Nam bộ ít viết sai khi gặp các trường hợp đã nêu.
Một thầy lang bị kiện đến cửa quan vì đã làm cho người bệnh chết. Quan hỏi:
-Ngươi đã trị bệnh thế nào để người này chết hả?
-Bẩm, người này bị đau bụng. Con đã cho uống nhân sâm theo đúng sách dạy ạ!
-Đưa sách ta xem.
Thầy lang vội đưa sách và giở đến trang có hàng chữ cuối cùng: “Phúc thống phục nhân sâm” cho quan xem. Quan liền giở trang tiếp theo thì thấy có thêm hai chữ “tắc tử’. Hoá ra nguyên câu này là: “Phúc thống phục nhân sâm tắc tử” (Đau bụng uống nhân sâm tất chết).
Câu chuyện vui ít nhiều cho thấy tầm quan trọng của câu.
Câu là đơn vị cơ bản trong giao tiếp (cả văn bản lẫn ngôn bản). Không biết hoặc không chú ý khi sử dụng dễ gặp lỗi câu què, câu cụt, câu dài hay câu mơ hồ khi tạo văn bản. Một ví dụ:
-Đây là phát minh mới áp dụng trong công nghệ Sinh học. (3)
-Hai giải nhì được thưởng 500.000đ.(4)
Ở (3), từ “mới” có khả năng kết hợp với yếu tố đứng trước (phát minh mới) và đứng sau (mới áp dụng) khiến người đọc (nghe) không xác định được nội dung cụ thể của thông báo. Vì thế, câu này mơ hồ về cấu trúc. Câu (4) mặc dù đúng ngữ pháp và các từ đều có nghĩa xác định nhưng lại gây ra hai cách hiểu: mỗi giải được 500.000đ hay cả hai giải được 500.000đ (tức mỗi giải 250.000đ). Cách viết ngắn quá như thế tạo ra loại câu mơ hồ về logic.
Một lỗi thường gặp nữa là do không nắm vững chức năng dấu câu nên viết câu dài đến vài chục từ mà không hề có một dấu câu nào, viết cả trang giấy mà không thấy sang hàng hoặc sử dụng dấu câu vô tội vạ (phải dùng dấu chấm lại dùng dấu phẩy và ngược lại, sử dụng tràn lan dấu chấm phẩy…). Tất nhiên với người đọc là người Việt sẽ hiểu được nội dung tác giả muốn truyền đạt. Nhưng vấn đề đặt ra là viết như vậy có nên không và nếu muốn sửa chữa cho chuẩn hơn thì có cách nào không. Dĩ nhiên là: có.
Một lỗi khác cũng rất đáng tiếc khi người viết (nói) muốn nhấn mạnh một ý (một vấn đề) quan trọng nhưng do đặt ý ấy sai vị trí trong câu (hay trong văn bản) thành ra ý này trở nên mờ nhạt. Người viết (nói) cũng “cảm thấy” như thế nên buộc phải viết (nói) thêm để tường minh ý đồ diễn đạt. Kết quả là càng viết (nói) càng dài, càng “vòng vo Tam quốc” khiến người nghe (đọc) không hiểu (hoặc khó hiểu) tác giả muốn viết (nói) điều gì. Chữa sai lầm lỗi diễn đạt kiểu đó, tiếc thay, càng làm cho sai lầm thêm trầm trọng.
Nhân đây mời bạn đọc thử tự kiểm tra kĩ năng diễn đạt bằng một trắc nghiệm nhỏ sau:
Chỉ với năm từ trong câu “Nó bảo sao không đến”, bạn có thể biến đổi được bao nhiêu câu khác nhau?
Đáp án: -Dưới 30 câu: Không sao, bạn còn thời gian và cơ hội để tiếp tục rèn luyện.
-Trên 30 câu: Chúc mừng! Bạn là một diễn giả thành đạt.
-Trên 40 câu: Rất có thể bạn vốn là nhà ngôn ngữ học bẩm sinh.
Nói và viết đúng cú pháp quả không khó nhưng nói hay, viết hay đòi hỏi phải rèn luyện. Lại có không hiếm người nói rất hay nhưng viết sai ở nhiều cấp độ hoặc ngược lại. Cũng không ít người viết rất chặt chẽ, súc tích nhưng khi phát biểu lại liên tục “coi như là…”, “thì, là, mà, cà…” đến nổi có trường hợp diễn thuyết: các anh chị biết không, vua Quang coi như là Trung… mà vẫn không hiểu vì sao cử toạ cười ồ. Hoàn toàn có thể khắc phục được những trớ trêu này nếu nắm vững quy tắc tạo lập văn bản và ngôn bản trong các mục đích giao tiếp khác nhau.
Những vấn đề viết trên đây không có gì mới mẻ. Học sinh, sinh viên hay người học nói chung thuộc bất kì ngành nghề nào cũng đều đụng chạm đến văn bản (các loại báo cáo, tham luận, ghi biên bản, lập đồ án, viết tiểu luận, làm đề cương…) và ngôn bản (thuyết trình, phỏng vấn, diễn giảng…). Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều trường Đại học, Cao đẳng đưa môn Tiếng Việt (Tiếng Việt thực hành, Đại cương ngôn ngữ học…) vào chương trình đào tạo của họ.
P.N.T
(1) Điều này viết theo quan điểm ngữ pháp học truyền thống. Hiện nay có nhiều quan điểm mới (chứ không hẳn là đúng) lí giải về hiện tượng này và các trường hợp tương tự.
Xem thêm:
Bài viết khác:
|
| Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp. Hồ Chí Minh 140 Lê Trọng Tấn, P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú, Tp. HCM Điện thoại: 08. 38161673 - Email: cntp@cntp.edu.vn |